Khoảng hơn 22 giờ ngày 16-10-2022, đoạn bờ sông Thạch Hãn qua thôn Như Lệ, thị xã Quảng Trị (tỉnh Quảng Trị) bỗng rít lên tiếng tôn bị xé, tiếp đến là tiếng ầm ầm nối nhau. Khi người dân chạy ra thì căn nhà kiên cố của anh Võ Lợi (1977) đã bị kéo sập hai phần xuống bờ sông. 2 căn nhà kế đó cũng đổ
Thói quen kỳ lạ của Lý Nhất Đồng, Tiêu Chiến và dàn sao Hoa Ngữ. Mỗi người đều có sở thích riêng của bản thân, nhưng những thói quen dưới đây của sao Hoa Ngữ phải nói là thật sự kỳ lạ và khá "ngược đời" rồi.
Bước 3: Ghi chép án lệ vào tập văn bản . Công bố án lệ. Án lệ được đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân, Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao; được gửi cho các Toà án và được đưa vào Tuyển tập án lệ xuất bản theo định kỳ 12 tháng.
4 hiểm họa tiềm ẩn cho nhiệm kỳ 3 của ông Tập Cận Bình. Vương Hữu Quần. •. Thứ tư, 19/10/2022. Ngày 16/10, Đại hội 20 của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã khai mạc, có vẻ như không có vấn đề gì ngăn cản được ông Tập Cận Bình tiếp tục nhiệm kỳ 3, thế
Vào ngày 16/11 tới đây tại Hà Nội, Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ có cuộc đối thoại lao động nhằm tiếp tục mở rộng hợp tác giữa hai nước, đồng thời tăng cường sự hỗ trợ của Mỹ trong các lĩnh vực lao động, an sinh của Việt Nam. Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Hoa Kỳ
Hnbp5Sg. Án lệ còn được coi là luật do thẩm phán tạo ra judge-made law. Về bản chất, án lệ là tập hợp các nguyên tắc và học thuyết pháp lý được tìm thấy trong các quan điểm của tòa án khi giải quyết các vụ việc cụ thể. Khi giải quyết các vụ việc, chủ yếu là quyết định các vấn đề pháp lý trong quyết định, bản án sơ thẩm bị kháng cáo, các thẩm phán nhân danh tòa án phúc thẩm hoặc tòa án tối cao đưa ra quan điểm về vấn đề pháp lý này. Quan điểm của thẩm phán được thể hiện ở các lập luận pháp lý legal reasoning. Cấu trúc của lập luận pháp lý bao gồm Bước thứ nhất Các thẩm phán đánh giá chứng cứ của vụ việc. Tại cấp sơ thẩm, tòa án sơ thẩm thông thường là bồi thẩm đoàn sẽ đánh giá tính đúng sai của chứng cứ nhằm xác định đâu là sự thật khách quan. Còn tại phiên tòa phúc thẩm và giám đốc thẩm, tòa án không xác định sự thật khách quan mà chỉ phân tích những diễn biến, tình tiết xảy ra trên cơ sở hồ sơ, chứng cứ đã được xác định ở cấp sơ thẩm. Bước thứ hai Tòa án xác định qui phạm pháp luật áp dụng cho vụ việc. Các qui phạm pháp luật có thể được chứa đựng trong văn bản qui phạm pháp luật do cơ quan lập pháp liên bang, bang ban hành, cũng có thể là trong qui chế hành chính hoặc là các nguyên tắc hoặc học thuyết pháp lý được tìm thấy trong các bản án, quyết định trước đó của tòa án. Bước thứ ba Tòa án cần phải phân tích để xác định xem liệu rằng qui phạm pháp luật sẽ được áp dụng như thế nào với chứng cứ của vụ việc. Đây có lẽ là bước khó khăn nhất. Để trả lời câu hỏi này, thẩm phán sử dụng các phương pháp lập luận sau forms of legal reasoning Phương pháp tam đoạn luận deductive reasoning hoặc syllogistic reasoning Theo phương này, lập luận được chia làm ba mệnh đề mệnh đề 1, mệnh đề 2 và mệnh đề 3 kết luận. Ví dụ A đẩy B gây thương tích cho B. Để kết luận A gây thiệt hại với lỗi cố ý thì ngoài chứng minh có thiệt hại gây ra bởi A đối với B còn phải chỉ ra A cố ý gây thiệt hại. Để kết luận được vấn đề này, tòa án sẽ lập luận theo các đoạn sau Đoạn 1 Theo pháp luật, lỗi cố ý chỉ đòi hỏi người gây thiệt hại cố ý thực hiện hành vi mà không cần người gây thiệt hại phải cố ý gây ra một hậu quả cụ thể. Đoạn 2 Chứng cứ của vụ việc này cho thấy A cố ý đẩy B mặc dù có thể A không mong muốn gây thương tích cho B. Đoạn 3 kết luận A gây thiệt hại cho B với lỗi cố ý. Phương pháp lập luận tuyến tính linear reasoning Theo phương pháp này, các lập luận được tiến triển theo từng bước cho đến khi bước cuối cùng là kết luận. Ví dụ Người thuê báo cho chủ nhà biết là cầu thang chung lối đi duy nhất lên các tầng trên bị hỏng có nguy cơ sập cần phải sửa ngay, chủ nhà đến kiểm tra và quyết định không sửa vì cho rằng cầu thang vẫn còn có thể sử dụng tốt trong một thời gian nữa. Mấy hôm sau, khách của người thuê đến chơi, khi đang đi trên cầu thang chung thì cầu thang này bị sập. Hậu quả là người khách này bị thương tích. Để kết luận thương tích của người khách có mối quan hệ nhân quả với hành vi không sửa cầu thang không, tòa án sẽ theo các đoạn lập luận sau Đoạn 1 Bất kỳ người bình thường nào cũng biết rằng nếu cầu thang bị hư hỏng đến mức có thể bị sập sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của bất kỳ ai sử dụng. Đoạn 2 Chủ nhà đã được báo về tình trạng của cầu thang và được yêu cầu sửa ngay. Vì người sử dụng không có lối đi nào lên các tầng ngoài cầu thang chung, nên chủ nhà biết hoặc buộc phải biết rằng nếu cầu thang không được sửa ngay sẽ có nguy cơ bị sập và gây thiệt hại cho người sử dụng cầu thang. Đoạn 3 Như vậy, trong hoàn cảnh này, chủ nhà hoàn toàn có khả năng dự đoán được rủi ro xảy ra cho người sử dụng nếu cầu thang không được sửa chữa kịp thời. Thực tế, cầu thang đã không được sửa ngay dẫn đến thiệt hại cho sức khỏe của người khách. Đoạn 4 Trong vụ việc này, thiệt hại cho người sử dụng là một rủi ro có thể dự đoán được với xác suất xảy ra cao đến mức có thể khẳng định nó là hậu quả tất yếu hoặc mang tính bản chất của hành vi không sửa chữa cầu thang kịp thời. Đoạn 5 Giữa hành vi và thiệt hại có mối quan hệ nhân quả nếu thiệt hại là hậu quả tất yếu hoặc mang tính bản chất của hành vi. Do đó, trong tình huống này, giữa hành vi không sửa chữa cầu thang kịp thời và thương tích của người khách có mối quan hệ nhân quả. Phương pháp so sánh Phương pháp so sánh thường được sử dụng để áp dụng tiền lệ pháp. Tòa án sẽ so sánh chứng cứ trong vụ việc đang giải quyết với chứng cứ của vụ việc đã được giải quyết trước đó. Nếu chứng cứ của hai vụ việc tương tự nhau thì quan điểm trong quyết định giải quyết vụ việc trước đó sẽ được áp dụng. Nếu chứng cứ của hai vụ việc khác nhau, tòa án sẽ không áp dụng quan điểm trong quyết định giải quyết vụ việc trước đó. Bước thứ tư, đây là bước tòa án ra kết luận. Nếu dựa vào hiệu lực áp dụng, quan điểm của tòa án được chia thành holding và dictum. “Holding” là phần lập luận của tòa án có tính bắt buộc áp dụng cho các vụ việc tương tự về sau. Như vậy, các nguyên tắc và học thuyết pháp lý được tìm thấy trong phần “holding”. Nếu dựa vào số lượng biểu quyết thì quan điểm của tòa án được chia thành 1. Quan điểm nhất trí unanimous opinion đạt được khi tất cả các thẩm phán đồng ý với quan điểm. 2. Quan điểm đa số majority opinion là khi đa số các thẩm phán đồng ý với quan điểm được đưa ra. 3. Quan điểm đồng ý concurring opinion là quan điểm của một thẩm phán mặc dù đồng ý với quyết định của đa số nhưng có lập luận khác. 4. Quan điểm khác dissenting opinion là quan điểm của một hoặc một số thẩm phán không đồng ý với quan điểm của đa số thẩm phán. Trong tương lai, quan điểm khác có thể được sử dụng làm cơ sở cho lập luận để bãi bỏ một án lệ. Ngoài ra, tòa án có thể đưa ra quan điểm mà không thể hiện rõ cá nhân thẩm phán đưa ra quan điểm, quan điểm này được gọi là per curiam opinion. Không phải tất cả các bản án, quyết định của tòa án phá án tòa án phúc thẩm và tòa án tối cao sẽ trở thành án lệ. Chỉ các bản án, quyết định được công bố reported opinions mới được sử dụng như án lệ. Các bản án, quyết định không được công bố unreported opinions, unpublished opinions là các bản án, quyết định không có giá trị khuôn mẫu để làm tiền lệ. “Quan điểm không được công bố là các quan điểm của tòa án không có hiệu lực áp dụng bắt buộc cho các vụ việc về sau non-binding precedential effect. Chúng là các phán quyết bằng văn bản cho các vụ việc cụ thể, được soạn ra cho riêng các bên liên quan, và chúng được ban hành với mục đích không tạo ra hiệu lực áp dụng bắt buộc cho các vụ việc về sau, chúng cũng không được áp dụng với giá trị thuyết phục cho các vụ việc trong tương lai. Nội dung của các quan điểm này thường hẹp, trích dẫn các chứng cứ của việc ở mức tối thiểu, và ít có những phân tích về pháp luật. Các quan điểm này thường không được soạn thảo một cách trau chuốt và cẩn thận như các quan điểm được công bố chính thức.”[1] Tòa án bang Maryland cũng khẳng định rõ “Các quan điểm được đăng tải trên trang này không được công bố unreported. Quan điểm không được công bố không được sử dụng để trích dẫn trong bất kỳ văn bản, bản lập luận, bản đề nghị hoặc bất kỳ văn bản nào nộp cho tòa án, hoặc bất kỳ tòa án nào của bang Maryland sử dụng quan điểm này như là tiền lệ pháp theo nguyên tắc stare decicis hoặc như là quan điểm có giá trị thuyết phục. Qui chế 1-104 của Maryland”[2] Các bản án, quyết định của tòa án bang thuộc trường hợp được công bố được chính thức công bố trên hệ thống công bố quốc gia National Reporter System được công bố bởi West Group. Hệ thống công bố quốc gia được chia thành các báo cáo khu vực regional reporters, mỗi khu vực sẽ công bố bản án, quyết định của các bang được phân bổ cho đơn vị đó. Nguồn công bố bản án, quyết định của tòa án bang – Hệ thống công bố quốc gia[3] Báo cáo khu vực Thời điểm bắt đầu Phạm vi Atlantic Reporter A. hoặc 1885 Connecticut, Delaware, District of Comlumbia, Maine, Maryland, New Hamphshire, New Jersey, Pennsylvania, Rhode Island, và Vermont North Eastern Reporter hoặc 1885 Illinois, Indinia, Massachusetts, New York, và Ohio North Western Reporter hoặc 1879 Iowa, Michigan, Minnesota, Nerbraska, North Dakota, South Dakota và Wisconsin Pacific Reporter P., hoặc 1883 Alaska, Arizona, California, Colorado, Hawaii, Idaho, Kansas, Montana, Nevada, New Mexico, Oklahoma, Oregon, Utah, Washington và Wyoming South Estern Reporter hoặc 1887 Georgia, North Carolina, South Carolina, Virginia và Western Virginia South Western Reporter hoặc 1886 Arkasas, Kentucky, Missouri, Tennessee và Mississipi Southern Reporter So., So. 2d, hoặc So. 3d 1887 Alabama, Florida, Louisiana Các bản án, quyết định của Tòa án tối cao liên bang Hoa Kỳ được công bố trên báo cáo của Hoa Kỳ United States Reports Quyết định của tòa án sơ thẩm liên bang được công bố không chính thức trên West’s Federal Supplement hoặc còn bản án, quyết định của án phúc thẩm khu vực được công bố không chính thức trên West’s Federal Reporter F., hoặc [1] Eriscas. Weisgerber, Unpublished Opinions A Convenient Means to an Unconstitutional End, the Georgetown Law Journal [Vol. 97 621 2009], p. 623 [2] [3] Thông tin trong bảng này được lấy từ Kenneth W. Clarkson, Roger LeRoy Miller and Frank B. Cross 2011, Business Law Text and Cases – Legal, Ethical, Global, and Corporate Environment, twelfth edition, Cengage Learning, p. 17 [4] Kenneth W. Clarkson, Roger LeRoy Miller and Frank B. Cross 2011, Business Law Text and Cases – Legal, Ethical, Global, and Corporate Environment, twelfth edition, Cengage Learning, p. 17
- Bài viết phân tích một số vấn đề cơ bản về quy trình xây dựng án lệ trong thông luật Hoa Kỳ và chỉ ra bài học kinh nghiệm để hoàn thiện quy trình xây dựng án lệ ở Việt Nam. 1. Quy trình xây dựng án lệ ở Hoa Kỳ Pháp luật Hoa Kỳ được xây dựng dựa trên nền tảng pháp luật Anh, vì vậy, án lệ Hoa Kỳ cũng mang những đặc trưng cơ bản của án lệ Anh, như việc thừa nhận án lệ là một nguồn luật chính thống bên cạnh luật thành văn. Tuy nhiên, sau khi giành được độc lập vào năm 1776, Liên bang Hợp chủng quốc Hoa Kỳ quyết định phát triển pháp luật theo một khuynh hướng mới để phù hợp với chế độ chính trị, hoàn cảnh xã hội của một quốc gia Liên bang đa dân tộc, đa tôn giáo, trong đó khuynh hướng xây dựng án lệ dù có những điểm chung trong quy trình xây dựng, phát triển, song cũng có những đặc trưng cơ bản riêng, cụ thể i Bản chất án lệ của Hoa Kỳ linh hoạt, mềm dẻo hơn án lệ của Anh ở Hoa Kỳ gồm có 02 loại án lệ, án lệ ràng buộc và án lệ thuyết phục, trong đó án lệ thuyết phục cũng chiếm một khối lượng khá lớn; án lệ Hoa Kỳ được tất cả các Tòa án trích dẫn thường xuyên, nhưng trong các bản án cũng dành chỗ cho quan điểm của các thẩm phán về chính sách chung, đặc biệt những vụ việc mà Tòa án coi là quan trọng; trong án lệ các thẩm phán Hoa Kỳ đề cập nhiều hơn tới hệ quả thực tiễn của một phán quyết phù hợp với nhu cầu chính sách hơn hay là sự kiên định của người thẩm phán trong việc xem xét vụ việc hiện tại. ii Ở Anh, án lệ không chỉ được ban hành để giải thích luật thành văn, mà còn có vai trò trong sáng tạo ra một số quy phạm thành văn, ví dụ những lĩnh vực như Hợp đồng, bồi thường trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, cũng như hành vi phạm tội nghiêm trọng như giết người và hành hung tập thể là sản phẩm của cơ quan tư pháp chứ không phải là cơ quan lập pháp[1]. Còn ở Hoa Kỳ, án lệ được tạo ra bởi hoạt động giải thích luật thành văn, vì vậy, án lệ giải thích ở Hoa Kỳ có giá trị ràng buộc cao. Tuy có điểm khác biệt về bản chất án lệ giữa các quốc gia trong hệ thống thông luật, song hầu hết các quốc gia đều có điểm chung trong quy trình xây dựng án lệ Thứ nhất, Tòa án có thẩm quyền ban hành án lệ xem xét các bản án của Tòa án cấp dưới, đáp ứng các tiêu chí lựa chọn, đề xuất, phát triển án lệ Ở Hoa Kỳ có hai hệ thống Tòa án Tòa án liên bang và Tòa án tiểu bang. Việc lựa chọn đề xuất các bản án để phát triển án lệ ở Hoa Kỳ thuộc về Tòa án liên bang, mà cao nhất trong hệ thống là Tòa án tối cao liên bang. Tất cả các Tòa án liên bang và tiểu bang đều bị ràng buộc bởi quyết định của Tòa án tối cao Hoa Kỳ, lẽ dĩ nhiên là thẩm quyền xét xử của Tòa án tối cao Hoa Kỳ và các Toà án liên bang chỉ mở rộng tới các vấn đề về luật liên bang. Các Tòa án tiểu bang là nơi lưu trữ thông luật rất lớn. Mặt dù một số bang hiện nay chú trọng nhiều hơn tới luật thành văn và quá trình pháp điển hóa song tất cả các bang đều kế thừa thông luật từ nước Anh và hầu hết các quyết định tại Tòa án tiểu bang đều chiểu theo án lệ. Tất cả các bang đã lập nên một khối lượng khổng lồ án lệ bao gồm tất cả nội dung quan trọng trong thẩm quyền xét xử của họ. Việc này có tác động đáng kể tới công việc của các thẩm phán, công tác thực hành luật, quản lý thông tin pháp luật và cách ứng xử của người dân với pháp luật. Bởi luật liên bang là tối cao trong những lĩnh vực mà nó chi phối nên các Tòa án tiểu bang phải bảo đảm rằng luật tiểu bang phải theo đúng luật liên bang. Vì mục đích này, Tòa án tiểu bang nhìn chung được trao quyền đưa ra quyết định về những vấn đề liên quan tới luật liên bang, nhất là Luật Hiến pháp. Để làm được như vậy, các Tòa án tiểu bang thường tôn trọng quyết định của Tòa án phúc thẩm liên bang và Tòa xét xử nằm trong bang của mình, mặc dù về mặt kỹ thuật, Tòa án tiểu bang chỉ phải tuân theo các quyết định của Tòa án tối cao Hoa Kỳ. Quyết định của Tòa án tiểu bang về luật liên bang có thể được kháng cáo lên Tòa án liên bang[2]. Như vậy, việc đề xuất phát triển án lệ ở Hoa Kỳ không bao gồm phán quyết của Tòa án tiểu bang, nhưng phán quyết của Tòa án cấp này có thể được viện dẫn, tham khảo học hỏi lẫn nhau ở các bang thành viên. Thứ hai, công bố rộng rãi án lệ trên phương tiện thông tin đại chúng Ở nhiều nước trên thế giới, việc công bố bản án được thực hiện thường xuyên, liên tục, rộng rãi bằng nhiều phương tiện thông tin đại chúng, kể cả trên hệ thống Internet. Đối với các nước theo hệ thống luật chung Anh – Mỹ Common Law, những bản án mẫu được tuyển chọn, đăng tải trong các báo cáo tổng hợp án lệ Law Report và trở thành án lệ Case Law là nguồn của pháp luật. Ví dụ ở Anh, quy trình một bản án được coi là án lệ sau khi được thẩm phán tuyên có hiệu lực cho đến khi được chính thức xuất bản vào những tuyển tập án lệ chính thức trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Đầu tiên, bản án khi được thẩm phán tuyên sẽ được các báo đưa tin Báo The Times thường đưa tin khoảng 10% các bản án của Tòa án hàng ngày. Tiếp đó, trước khi bản án được xuất bản trong những tuyển tập án lệ chuyên biệt Specialiesd Law Reports, một số tạp chí chuyên ngành sẽ đăng tải ngắn gọn nội dung vụ việc đã xử lý trong các tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Luật sư tư vấn The Solicitors, Tạp chí Luật mới The New Law Journal, sau đó toàn văn sẽ được xuất bản ở một trong hai hoặc cả hai tuyển tập án lệ mang tên “All England Law Reports” và “Weekly Law Reports”. Cuối cùng, bản án có giá trị chính thức sẽ được xuất bản vào hàng loạt tuyển tập án lệ chính thức của nước Anh – Law Reports. Quá trình để một bản án ghi nhận vào trong tuyển tập án lệ chính thức Law Reports thường mất 09 tháng kể từ khi vụ việc đó được xử xong[3]. Riêng ở Hoa Kỳ, khi xét xử các hành vi vi phạm pháp luật và các tranh chấp nảy sinh, các Tòa án cần phải diễn giải luật bằng các bản án trước đó của Tòa án cùng cấp hoặc Tòa án cấp cao hơn. Đây được gọi là nguyên tắc theo quyết định trước hay đơn giản gọi là án lệ, tiền lệ pháp. Tòa án tối cao liên bang công bố các quyết định của Tòa án tối cao thông qua website chính thức Các quyết định của Tòa án tối cao liên bang có thể được tìm thấy trong các báo cáo pháp luật của Hoa Kỳ. Thứ ba, ghi chép án lệ vào tập san Ở các quốc gia theo truyền thống pháp luật thông luật, việc ghi chép án lệ được trình bày theo các tuyển tập và theo từng lĩnh vực Ví dụ ở Anh, hàng năm tổng kết công tác xét xử, thượng nghị viện lựa chọn và xuất bản các án lệ thành các tuyển tập theo từng lĩnh vực được ghi chép trong Law Reports, All England Law Reports, Weekly Law Reports. Tại Hoa Kỳ, tập hợp các án lệ được in trong tuyển tập “Trình bày về pháp luật” Restatement of the Law của một hiệp hội tư nhân có tên là Viện Luật Hoa Kỳ American Law Institute. Thứ tư, về bãi bỏ án lệ Trong hệ thống Common Law, các án lệ được coi là luật và nó cũng có thể bị bãi bỏ, điều này làm cho thông luật trở nên mềm dẻo và thích nghi được với sự thay đổi của các điều kiện xã hội. Theo lý thuyết, án lệ trong hệ thống Common Law sẽ không tự nhiên mất đi hiệu lực của nó cho đến khi nó bị bãi bỏ. Có hai cách để án lệ có thể bị bãi bỏ i Án lệ có thể bị bãi bỏ bởi chính Tòa án đã tạo ra nó hoặc Tòa án cấp trên; ii Án lệ có thể bị bãi bỏ bởi một luật do cơ quan lập pháp thông qua. Trong cách thức án lệ bị bãi bỏ bởi Tòa án, chúng ta cần phân biệt việc án lệ bị bãi bỏ với việc một bản án, quyết định bị Tòa án cấp trên thay đổi về nội dung trong quá trình tố tụng khi quyết định của Tòa án cấp dưới bị kháng cáo và xét xử tại Tòa án cấp phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm có thẩm quyền xét lại và thay đổi bản án của Tòa án cấp dưới. Tuy nhiên, hệ quả của việc sửa chữa các nội dung quyết định bị phúc thẩm hoàn toàn khác với việc một án lệ bị bãi bỏ. Vì án lệ là luật nên việc một án lệ bị bãi bỏ có thể dẫn đến hệ quả thay đổi về pháp luật. Vì vậy, thực tiễn về bãi bỏ những án lệ đã lỗi thời, lạc hậu, trái pháp luật trong hệ thống Common Law luôn gắn với việc những án lệ mới được thiết lập để làm cho pháp luật phù hợp hơn với sự thay đổi của đời sống xã hội. Một nghiên cứu dựa trên các phán quyết của Tòa án tối cao Hoa Kỳ trong 46 năm từ năm 1960 đến năm 2005 đã chỉ ra ít nhất 74 lần Tòa án này bác bỏ các án lệ của chính nó. Thực tiễn này cho thấy, Tòa án tối cao Hoa Kỳ không ngần ngại thay đổi, sửa chữa những sai lầm qua rất nhiều các án lệ đã bị bãi bỏ. Những ví dụ sau đây sẽ cho thấy Tòa án này bãi bỏ các án lệ như thế nào. Trong đó, nhiều vụ án, phải đợi một thời gian rất dài để Tòa án tối cao Hoa Kỳ tuyên bố từ bỏ sai lầm của họ trong các án lệ Ví dụ Trong án lệ vụ Brown v. Board of Education 1954, Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã bãi bỏ án lệ đã được thiết lập trong vụ Plessy v. Ferguson 1896. Theo án lệ trong vụ án Plessy v. Ferguson 1896, Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa người da trắng và người da đen cho phép các công ty vận tải đường sắt cung cấp các dịch vụ theo hình thức phân biệt toa tàu dành cho người da trắng khác với toa tàu dành cho người da đen. Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã cho rằng sự phân biệt này không vi phạm Hiến pháp Hoa Kỳ liên quan đến Tu chính án lần thứ XIV về bình đẳng quyền công dân. Từ án lệ của vụ Plessy v. Ferguson 1896 đã tạo ra một học thuyết về phân biệt đối xử ở trong xã hội Mỹ có tên gọi “phân chia nhưng bình đẳng” separate but aqual. Quan điểm sai trái này đã chính thức bị bãi bỏ bởi án lệ của vụ án Brown v. Board of Education 1954, Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã phân tích và tuyên bố rằng, bất cứ có sự phân biệt đối xử nào giữa người da trắng và da đen ở nơi công cộng như việc phân chia phòng học hay phương tiện giao thông công cộng… đều là vi phạm Hiến pháp. Những luật nào có sự thừa nhận sự phân biệt “phân chia nhưng bình đẳng” đều được coi là vi phạm Hiến pháp và nó phải bị bãi bỏ. Rõ ràng, trong ví dụ trên đây cho thấy, khi các điều kiện xã hội như quan điểm về bình quyền, quan điểm chính trị, xã hội thay đổi sẽ làm cho các án lệ sai trái có thể bị bãi bỏ[4]. 2. Một số bài học kinh nghiệm Một là, về lựa chọn, đề xuất, phát triển án lệ Theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ về cơ quan có thẩm quyền ban hành án lệ, thì có án lệ của Tòa án tối cao Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, án lệ Tòa án liên bang, ngoài ra việc đề xuất phát triển án lệ ở Hoa Kỳ không bao gồm phán quyết của Tòa án tiểu bang, nhưng phán quyết của Tòa án cấp này có thể được viện dẫn, tham khảo học hỏi lẫn nhau ở các bang thành viên, hoặc những phán quyết này cũng có thể trở thành án lệ trong phạm vi áp dụng ở Tòa án các tiểu bang, những án lệ này được gọi là án lệ thuyết phục và không có giá trị bắt buộc. Để đảm bảo tính thực tiễn trong quy định pháp luật hiện hành về rà soát, phát hiện bản án, quyết định để đề xuất phát triển án lệ, Việt Nam nên thực thi quy định này theo hướng mở rộng xem xét lựa chọn các bản án của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ, trong đó, phán quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện cũng có thể được đề xuất phát triển án lệ, tuy nhiên, thực tiễn các án lệ Việt Nam hiện hành đều từ phán quyết của Tòa án nhân dân tối cao. Hai là, về thời gian trong quy trình lựa chọn, công bố áp dụng án lệ Pháp luật Việt Nam quy định quy trình lựa chọn, công bố án lệ quá chặt chẽ. Thời gian ngắn nhất tính từ thời điểm ban hành bản án, quyết định gốc đến khi án lệ có hiệu lực là hơn 02 năm. Điều này làm cho án lệ Việt Nam hiện nay quá khiêm tốn, không đáp ứng được yêu cầu là nguồn bổ sung cho pháp luật thành văn. Với hạn chế này, tham khảo kinh nghiệm của Hoa Kỳ trong quy định về thời gian ban hành án lệ linh hoạt, không quá chặt chẽ về thủ tục. Ở Hoa Kỳ, Tòa án có thẩm quyền ban hành án lệ xem xét các bản án của Tòa án cấp dưới, đáp ứng các tiêu chí lựa chọn, đề xuất, phát triển án lệ. Như vậy, Hoa Kỳ không đặt nặng về thời gian từ khâu đề xuất đến thông qua án lệ; quy định tại Hoa Kỳ có tính linh hoạt, mềm dẻo, hướng tới hệ quả thực tiễn của một án lệ mà không chú trọng về thủ tục hình thức. Vì vậy, nguồn án lệ Hoa Kỳ đáp ứng rất tốt thực tiễn điều chỉnh quan hệ xã hội bên cạnh luật thành văn. Đây là một kinh nghiệm hữu ích cho pháp luật Việt Nam trong thời gian tới. Ba là, kinh nghiệm Hoa Kỳ trong công bố án lệ Án lệ tại các nước thông luật nói chung và án lệ tại Hoa Kỳ nói riêng dù phương thức công bố có thể khác nhau, tuy nhiên đều có chung một hình thức công bố công khai trên các phương tiện truyền thông. Ví dụ, ở Anh đã thành lập Ủy ban xuất bản báo cáo pháp luật với chức năng ghi chép một cách chi tiết các tình tiết của vụ án và quan điểm của thẩm phán cũng như phán quyết sau cùng của Tòa án. Một số phán quyết sẽ được cơ quan có thẩm quyền cân nhắc lựa chọn để trở thành án lệ và sau đó xuất bản trong các báo cáo pháp luật Law Reports. Ở Hoa Kỳ, người dân có thể truy cập vào cơ sở dữ liệu điện tử của các Tòa án hoặc những dịch vụ tư nhân như Findlaw, Westlaw để tra cứu các án lệ; hoặc ở Ấn Độ là Indian Supreme Court Law Reporter ISCLR, All India Reporter AIR hay Supreme Court Cases SCC[5]. Ở Australia, các tập san án lệ gồm Commonwealth Law Reports CLR, Australia Law Report ALR và Australian Law Journal Reports ALJR. Những tuyển tập này được công khai trên nhiều phương tiện để toàn dân dễ dàng tham khảo. Quy định này mang lại nhiều hiệu quả trong việc áp dụng án lệ trên thực tiễn, đặc biệt công khai án lệ giúp phát huy hiệu quả tính thực tiễn của án lệ. Án lệ ở các nước thông luật sau khi được công bố, không phải trải qua một thời gian chờ đợi về tính hiệu lực mà các Tòa án cấp dưới có thể vận dụng ngay để giải quyết các vụ việc có tình tiết giống hay tương tự án lệ đã xuất bản. Quy định này nhằm đáp ứng nhanh chóng kịp thời những quan hệ xã hội mới, những vụ việc mới không có trong luật nhưng lại được hướng dẫn tại án lệ. Bốn là, về hủy bỏ, thay thế án lệ Ở Việt Nam hiện nay, chỉ có Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được thực hiện chức năng hủy bỏ, thay thế án lệ, quy định này sẽ mang lại tính cứng nhắc cho thực tiễn án lệ, bởi nếu thời gian tới khi các phán quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thể được thông qua án lệ, trong quá trình áp dụng án lệ nếu phát hiện những án lệ không còn phù hợp với thực tiễn cũng phải theo quy trình đề xuất Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét hủy bỏ, thay thế án lệ. Quy định này cũng sẽ dẫn tới hệ quả thụ động của các cấp Tòa án khác, không phát huy hết năng lực thực tiễn trong việc nghiên cứu, vận dụng loại nguồn án lệ. Với những hạn chế này, nếu tham khảo quy định về hủy bỏ, thay thế án lệ trong thông luật Hoa Kỳ sẽ mang lại hiệu quả cao cho quy định án lệ Việt Nam. Ở Hoa Kỳ, án lệ có thể bị bãi bỏ bởi chính Tòa án đã tạo ra nó hoặc một Tòa án cấp cao hơn Tòa án đã tạo ra án lệ. Như vậy, thẩm quyền hủy bỏ án lệ ở Hoa Kỳ rộng hơn, các Tòa án có thẩm quyền tạo ra án lệ cũng có thể linh hoạt trong việc hủy bỏ án lệ đó. Theo [1]. Tham khảo Giáo trình luật so sánh – Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, tr. 259. [2]. Tham khảo thêm Sebastiaan Pompe 2013, “Tóm tắt báo cáo nghiên cứu về áp dụng tiền lệ án ở Indonesia, Hà Lan, Nga và Hoa Kỳ” – Chương trình đối tác tư pháp Việt Nam. [3]. Tham khảo tại Đặng Thị Hồng Tuyến, Bùi Thị Minh Trang, Một số vấn đề án lệ ở Anh, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về án lệ, Đại học Luật Hà Nội, 2017, tr. 223. [4]. Tham khảo Hoàng Mạnh Hùng 2013, Án lệ trong hệ thống các nguồn pháp luật, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr. 53, 54. [5]. Tham khảo Hoàng Thư, Án lệ ở các nước – Bài 2 Trí tuệ thẩm phán thành luật, ngày 17/1/2013 – 0500.
Ít có cuộc bầu cử nào trên thế giới lại được chú ý và tốn giấy mực như cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ. Từ các ứng cử viên, cơ chế bầu cử đại cử tri đoàn, quá trình bỏ phiếu gay cấn ở các tiểu bang… luôn giúp cho người ta hào hứng theo dõi cuộc tranh đua chức danh nhà nước quyền lực nhất thế giới. Tuy nhiên, cũng giống như hầu hết các vấn đề quản trị nhà nước khác của Hoa Kỳ, khó có thể hoàn thiện bức tranh toàn cảnh của cuộc bầu cử mà không nói về những lần các bên liên quan phải “đáo tụng đình”. Là một quốc gia có truyền thống tư pháp mạnh mẽ, nơi mà hầu hết các tranh chấp công dân – công dân; hay công dân – nhà nước, đều được giải quyết bằng phán quyết của tòa, các tranh chấp về bầu cử tổng thống cũng nổ ra khá thường xuyên, và đều được dàn xếp thông qua các quyết định tư pháp. Dưới đây là ba án lệ quan trọng Luật Khoa muốn giới thiệu với bạn đọc, có thể giúp chúng ta hiểu rõ thêm về vai trò của tư pháp và văn hóa pháp lý Hoa Kỳ. Bush v. Gore 2000 Tiếng nói cuối cùng Trong gần hai thập kỷ trở lại đây, các luật gia nghiên cứu về Hoa Kỳ buộc phải nhắc đến vụ án Bush v. Gore. Dù không hẳn tạo ra các nguyên tắc pháp lý tiền lệ đặc biệt quan trọng cho tiến trình bầu cử, phán quyết một mặt chứng minh tầm ảnh hưởng bao trùm của Tối cao Pháp viện lên mọi vấn đề chính trị quốc gia, một mặt thể hiện sự trân trọng của tất cả các nhóm xã hội đối với Tối cao Pháp viện với tư cách là người quyết định cuối cùng trong cuộc chạy đua vào Nhà trắng đầy tranh cãi hồi năm 2000. Trong hoàn cảnh thời điểm đó, cuộc bầu cử tổng thống ở tiểu bang Florida để lại nhiều ngàn phiếu gây tranh cãi ở các quận như Miami-Dade và Palm Beach, có khả năng quyết định lại toàn bộ 25 phiếu Đại cử tri của Florida, vốn đã được tuyên bố là thuộc về ứng cử viên của Đảng Cộng hòa, George W. Bush. Cụ thể hơn, số phiếu này được máy đếm ra là các phiếu trắng, tức không ghi nhận bầu cho ai. Theo các luật sư bảo vệ quyền lợi cho ứng cử viên còn lại của Đảng Dân chủ, đương kiêm phó tổng thống Albert Gore, đây là những phiếu bầu hợp pháp và chỉ không đếm được bởi những hạn chế thiết kế của hệ thống đếm phiếu thẻ bằng máy. Theo họ, số lượng phiếu này cần phải được đếm lại, bằng tay không. Tối cao Pháp viện tiểu bang Florida đồng tình với lập luận của phía Albert Gore. Phía ông Bush, đương nhiên, không có lý do gì phải chấp nhận một rủi ro đáng giá 25 phiếu đại cử tri, khẳng định rằng chúng đều là những phiếu không có giá trị về mặt pháp lý. Do đó, việc đếm lại là không cần thiết. Hai ứng cử viên G. W. Bush và Al Gore tranh luận trên truyền hình năm 2000. Ảnh Boston Global. Câu hỏi mà đội ngũ luật sư của ông Bush đặt ra cho Tối cao Pháp viện cũng vô cùng khéo léo “Việc Tối cao Pháp viện tiểu bang Florida đặt ra các quy tắc bầu cử mới ý chỉ luật tiểu bang và liên bang không có quy định đếm phiếu bằng tay – ND có vi phạm Hiến pháp Hoa Kỳ hay không? và Việc đếm phiếu không quy chuẩn bằng tay có vi phạm các điều khoản về bảo vệ bình đẳng equal protection và chuẩn mực pháp lý due process hay không?” Như vậy, thay vì để câu hỏi ở trạng thái nguyên vẹn là “có nên kiểm phiếu bằng tay hay không?”, nay Pháp viện phải xem xét liệu việc cho kiểm phiếu bằng tay có phải là đang đặt ra các quy tắc pháp lý bầu cử mới hay không? Một góc nhìn hoàn toàn khác biệt, hợp lý, và có lợi hơn cho ông Bush. Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ nghiêng về các lập luận của đội ngũ luật sư của Bush, với 7/9 thẩm phán cho rằng Pháp viện tiểu bang Florida đã vi hiến, và 5/9 thẩm phán cho rằng đếm phiếu bằng tay mà không có quy chuẩn luật định vi phạm các nguyên tắc Equal Protection và Due Process. Việc đếm phiếu lại do đó đã không thể diễn ra. Nhờ phán quyết này, ông Bush có đủ 25 phiếu đại cử tri của bang này, và cuối cùng là tổng cộng 271 phiếu đại cử tri toàn quốc, dư đúng một phiếu để có thể trở thành tổng thống Hoa Kỳ. Quan trọng hơn cả, theo Thẩm phán Stephen G. Breyer, dù ông không đồng tình với kết quả cuối cùng, phản ứng của các đảng phái cũng như dân chúng đối với phán quyết thể hiện sự tôn trọng rất lớn của người dân dành cho tòa và hệ thống tư pháp quốc gia. Đó là những gì tốt đẹp về nền pháp quyền và văn hóa pháp lý Hoa Kỳ. Smith v. Allwright 1944 Quyền bỏ phiếu nội bộ đảng “Chế độ nô lệ sẽ không thật sự chấm dứt cho đến khi người da đen có quyền bỏ phiếu”. Đây là tuyên bố nổi tiếng của Frederick Douglass vào tháng Năm năm 1865, sau khi chính phủ Liên hiệp miền Bắc đạt được chiến thắng quyết định tại Appomattox trong cuộc Nội chiến 1861 – 1865. Lo ngại của Frederick Douglass về tàn dư của chế độ nô lệ không thừa. Quá trình Tái thiết Reconstruction Hoa Kỳ sau cuộc nội chiến tại miền Nam được vận hành chủ yếu bởi chính những người da trắng thua trận, vốn vẫn còn một niềm tin mãnh liệt vào chế độ nô lệ và sự thấp kém của người Mỹ gốc Phi. Dù vào nửa cuối thế kỷ 19, đã có nhiều dân biểu, thượng nghị sĩ gốc Phi được bầu vào Quốc hội Hoa Kỳ, sự phân biệt đối xử ngầm dành cho người da đen vẫn tồn tại suốt nhiều thập niên. Một trong số đó, phải kể đến việc Đảng Dân chủ thời điểm này vẫn còn là chính đảng đại diện cho sự phân biệt – định kiến không cho phép cử tri da đen tham gia vào các kỳ bầu cử sơ bộ bên trong nội bộ đảng. Căn cứ pháp lý là các đạo luật riêng rẽ ở từng tiểu bang, ghi nhận rằng các chính đảng có quyền tự thiết lập nguyên tắc bầu bán riêng của mình trong các cuộc bầu cử nội bộ. Như vậy, dù quyền bầu cử trên toàn quốc dành cho người Mỹ gốc Phi đã được công nhận và thi hành trên thực tế, họ vẫn có khả năng bị loại ra khỏi quá trình đóng góp tiếng nói trong việc quyết định ứng viên bên trong từng đảng. Nói cách khác, anh có quyền đi bầu trong các cuộc tổng tuyển cử; nhưng việc chọn ra ứng cử viên là ai thì anh không có quyền tham gia. Cử tri da đen đòi quyền bỏ phiếu ở Mỹ. Ảnh Mãi đến năm 1923, Lonnie E. Smith, một cử tri da đen thuộc quận Harris, Texas, khởi kiện đảng bộ Đảng Dân chủ tiểu bang Texas vì quy định rằng chỉ có các công dân da trắng mới được bỏ phiếu cho kỳ bầu cử sơ bộ trong nội bộ đảng này. Để trả lời câu hỏi hành vi loại trừ quyền bầu cử của công dân dựa trên màu da, sắc tộc của các tổ chức chính trị, tổ chức tư nhân có vi phạm Hiến pháp Hoa Kỳ hay không, Tối cao Pháp viện lập luận “Hoa Kỳ là một nền dân chủ lập hiến. Từng tế bào của hệ thống pháp luật chúng ta bảo đảm cho mọi công dân quyền được tham gia vào quá trình lựa chọn các chức vụ công quyền mà không gặp bất kỳ cản trở nào vì màu da của họ. Nếu chính quyền tiểu bang có thể đơn giản tước bỏ quyền công dân quan trọng này bằng cách trao lại thẩm quyền cho một tổ chức tư nhân nhằm thực hiện hành vi phân biệt chủng tộc ngay cả trước khi cuộc bầu cử chính thức diễn ra, các quyền hiến định sẽ không còn bao nhiêu ý nghĩa nữa”. Không chỉ vậy, Pháp viện còn nhấn mạnh vai trò của các chính đảng trong việc lựa chọn ra ứng viên để được tham gia vào cuộc tổng tuyển cử toàn quốc hay toàn tiểu bang không còn đơn thuần là một tổ chức tư nhân, mà là đang thực hiện chức năng nối dài của chính quyền. Phán quyết chính thức xóa bỏ hệ thống bầu cử nội bộ phân biệt đối xử của các chính đảng, mà cụ thể ở đây là Đảng Dân chủ, từ đó khởi nguồn cho các biến chuyển, cải cách mạnh mẽ diễn ra bên trong từng đảng cho đến ngày nay. Buckley v. Valeo 1976 Kiện cơ quan lập pháp vì pháp luật kiểm soát tài chính bầu cử Dưới nhiều góc độ, Buckey v Valeo là một trong những án lệ dài nhất trong lịch sử xét xử của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ, với nhiều kết luận tư pháp cuối cùng được đưa ra nhất. Đây là bản án định hình nên cách thức mà chính phủ liên bang lẫn tiểu bang Hoa Kỳ hiện nay đang tiếp cận với tiêu chuẩn minh bạch và kiểm soát đóng góp tài chính cho hoạt động tranh cử của các ứng cử viên. Về bối cảnh lịch sử, lưỡng viện Hoa Kỳ quyết định đặt ra các định mức đóng góp tài chính cá nhân và nhiều quy định pháp luật khác cho hoạt động tranh cử sau vụ bê bối Watergate lịch sử đầu thập niên 1970. Một số đạo luật như Đạo luật Vận động Tranh cử Liên bang Federal Election Campaign Act 1971 cùng những điều khoản cũ trong Bộ luật Thuế Internal Revenue Code 1954, được ban hành hoặc sử dụng nhằm ngăn chặn khả năng chi phối các chính trị gia, nguy cơ tham nhũng và tính liêm chính của các cuộc bầu cử liên bang. Đáng chú ý có thể kể đến việc đặt giới hạn đóng góp tài chính của từng cá nhân cho một chương trình vận động tranh cử, hay đặt ra nghĩa vụ báo cáo tài chính cho các tổ chức nếu khoản đóng góp của họ cho chương trình tranh cử vượt quá một con số do luật xác định. Kèm theo đó, Ủy ban Bầu cử Liên bang Federal Election Commission – FEC cũng được thành lập để đảm bảo việc vận hành những yêu cầu kiểm soát ngặt nghèo mới về vấn đề tài chính này. Dù vừa nhìn qua, đây đều là những quy định rất cần thiết để bảo vệ sự công bằng, minh bạch và liêm chính của một cuộc bầu cử, người Mỹ không đơn giản chấp nhận nó mà không có một cuộc đấu pháp lý sòng phẳng. James Buckley phải trong đêm bầu cử ở New York, 3/11/1970. Ảnh National Review. Trong vụ án, James L. Buckley – nguyên đơn – là người thuộc đảng Bảo thủ Conservative Party, một đảng nhỏ buộc phải phản đối các giới hạn tài chính vì nó làm giảm năng lực cạnh tranh của đảng này với các đảng phái lâu đời như Cộng hòa hay Dân chủ. Bị đơn, Francis R. Valeo, là Thư ký và đại diện cho Thượng viện Hoa Kỳ trước tòa. Sau hơn ba tháng tranh luận và cân nhắc, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đưa ra hàng loạt các kết luận và lý giải đi kèm, với 7/9 phiếu đồng thuận từ các thẩm phán. Phán quyết có thể được tạm rút gọn những điểm quan trọng như sau Đối với giới hạn đóng góp tài chính của từng cá nhân dành cho một ứng cử viên, một cuộc vận động tranh cử nhất định, tổng chi của cá nhân cho tất cả các cuộc tranh cử trong một năm tài chính, cùng theo đó là các yêu cầu về tiết lộ và minh bạch thông tin người đóng góp, Pháp viện cho rằng đây là những công cụ pháp lý cần thiết nhằm chống lại thực trạng các ứng cử viên của các chức danh nhà nước quan trọng có thể bị lệ thuộc vào các mạnh thường quân lớn. Các giới hạn và biện pháp đặt ra, theo Pháp viện, vừa bảo vệ được lợi ích của một nhà nước chính trực, minh bạch, song cũng không làm ảnh hưởng quá nhiều đến quyền tự do biểu đạt của công dân. Ngược lại, đối với việc đặt ra giới hạn chi tiêu tranh cử của các ứng viên, đặt ra trần được phép sử dụng từ các nguồn quỹ thuộc sở hữu chính ứng viên đó, gia đình ứng viên hay của toàn bộ chiến dịch tranh cử… tạo nên hạn chế trực tiếp, xâm phạm lên quyền tự do biểu đạt được ghi nhận trong Tu chính án thứ Nhất. Tương tự như vậy, một cá nhân độc lập chi tiền để quảng bá cho hình ảnh và thông điệp chính trị của một ứng cử viên cũng được xem là hình thức ngôn luận được bảo vệ. Những hạn chế này sẽ giới hạn năng lực của ứng viên, công dân và các tổ chức xã hội có thể tham gia vào các hoạt động được bảo vệ như biểu đạt và tuyên truyền các thông điệp chính trị bằng các buổi mít-tinh, gặp mặt, đại nhạc hội, quảng cáo và các hoạt động công cộng khác. Nói cách khác, theo các thẩm phán, chi tiền trong tranh cử đồng nghĩa với việc thực hiện quyền nói của mình. Hạn chế việc chi tiền đồng nghĩa với việc hạn chế quyền tự do ngôn luận về mặt định lượng quantity. Cuối cùng, cùng với các kết luận khác, Tối cao Pháp viện cũng đồng thời khẳng định thẩm quyền bổ nhiệm các chức danh của Ủy ban Bầu cử Liên bang được trao trực tiếp cho các thành viên Nghị viên là vi phạm nguyên tắc tam quyền phân lập mà Hoa Kỳ theo đuổi từ thời kỳ lập quốc. Tất cả các chức danh trong nhóm Nhân viên Liên bang Hoa Kỳ “Officers of the United States” cần phải do Tổng thống Hoa Kỳ đề cử và bổ nhiệm, với ý kiến và sự chuẩn thuận từ Thượng viện.
án lệ hoa kỳ