Tham mưu xây dựng chính sách phát triển chương trình đào tạo nhằm thực hiện đổi mới quá trình đào tạo theo hướng đảm bảo chất lượng và hiệu quả cho tất cả các bên liên quan đến giáo dục đại học; tăng cường phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng và phát triển chương trình đào tạo tiên tiến quốc tế UEH. 6.
Chương trình Tài chính Hỗ trợ Phát triển Hạ tầng Bền vững (DSIF) cung cấp các khoản vay phi lãi suất cho các dự án cơ sở hạ tầng tại Việt Nam. Khoản vay thông thường có kỳ hạn 10 năm và được giải ngân bằng Đô la Mỹ hoặc Euro.
Trang chủ Đội ngũ Chương trình Thạc sĩ Biến đổi khí hậu và Phát triển Về VJU Sứ mệnh, Tầm nhìn và Triết lý giáo dục
- Tham gia xây dựng chương trình môn học (bám sát chương trình giáo dục phổ thông mới) phục vụ cho việc xây dựng các sản phẩm của HOCMAI. - Trao đổi và thống nhất định hướng nội dung khóa học với Giáo viên. - Đánh giá Giáo viên và góp ý cho Giáo viên về chuyên môn: video và học liệu, bao gồm cả đánh giá giảng thử.
Chiều 18/10, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã tiếp Tổng Thư ký Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) Mathias Cormann nhân dịp tham dự các hoạt động trong Chương trình Đông Nam Á của OECD năm 2022 tại Hà Nội. Tại buổi tiếp, Thủ tướng
tFXiScn. Phát triển phần mềm là một thị trường vô cùng rộng lớn và phức tạp, có rất nhiều quy trình, quy trình khác nhau được các công ty áp dụng để phát triển và phát hành các sản phẩm phần mềm. Việc lựa chọn quy trình thường phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhu cầu kinh doanh, chuyên môn, nhóm phát triển, loại ứng dụng, mục tiêu kinh doanh, khung thời gian phát triển, Quá trình phát triển phần mềm được gọi là SDLC Software Development Life Cycle. Nó bao gồm một số giai đoạn như lập kế hoạch, phân tích, thiết kế và thực hiện. Nhiều mô hình SDLC đã được tạo ra như thác nước, xoắn ốc và mô hình chữ V, Mỗi quy trình trình bày một cách tiếp cận khác nhau để lập kế hoạch, thiết kế, phát triển, thử nghiệm và thực hiện dự án tổng thể. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu hai quy trình phổ biến hiện nay là Thác nước và SCRUM. 1. Quy trình phát triển phần mềm truyền thống SDLC. Mô hình Vòng đời phát triển phần mềm SDLC bao gồm các giai đoạn sau Requirement planing and analysis Lập kế hoạch và phân tích yêu cầu Yêu cầu được thu thập trong giai đoạn này. Giai đoạn này là trọng tâm chính của dự án. Các cuộc họp với người quản lý, với các bên liên quan và người dùng được tổ chức để xác định yêu cầu như Ai sẽ sử dụng hệ thống? Họ sẽ sử dụng hệ thống như thế nào? Dữ liệu nào nên được nhập vào hệ thống? Dữ liệu nào nên được xuất bởi hệ thống? Đây là những câu hỏi chung được trả lời trong giai đoạn thu thập yêu cầu. Sau đó các yêu cầu này được phân tích về tính hợp lệ của chúng và khả năng kết hợp với các yêu cầu khác trong hệ thống. Cuối cùng, một tài liệu đăc tả yêu cầu được tạo ra, phục vụ cho giai đoạn tiếp theo của quy trình. Nhóm kiểm thử tuân theo quy trình kiểm thử phần mềm và bắt đầu giai đoạn lập kế hoạch kiểm thử sau khi phân tích yêu cầu được hoàn thành. Design Thiết kế Trong giai đoạn này, thiết kế hệ thống và phần mềm được chuẩn bị từ các thông số kỹ thuật yêu cầu đã được nghiên cứu trong giai đoạn đầu tiên. Thiết kế hệ thống giúp xác định các yêu cầu phần cứng và kiến trúc hệ thống tổng thể. Các thông số kỹ thuật thiết kế hệ thống phục vụ như đầu vào cho giai đoạn tiếp theo của mô hình. Trong giai đoạn này, tester cũng nên viết testplan, checklist, testcase,... để chuẩn bị cho việc kiểm thử. Implementation or coding Thực hiện / Mã hóa Khi nhận được tài liệu thiết kế hệ thống, công việc được chia thành các mô-đun / đơn vị và việc mã hóa được bắt đầu. Vì, trong giai đoạn này mã được tạo ra nên nó là trọng tâm chính cho phát triển phần mềm. Đây là giai đoạn dài nhất của vòng đời phát triển phần mềm. Testing Thử nghiệm Sau khi code xong, mã nguồn được kiểm thử dựa trên spec đã được thu thập trong giai đoạn đầu và dựa trên tính khả dụng người dùng. Trong giai đoạn này tất cả các loại kiểm thử chức năng như kiểm thử đơn vị, kiểm thử tích hợp, kiểm tra hệ thống, kiểm tra chấp nhận được thực hiện cùng với các kiểm thử phi chức năng cũng được thực hiện. Deployment Triển khai Sau khi thử nghiệm thành công, sản phẩm được phân phối / triển khai cho khách hàng để sử dụng. Ngay sau khi sản phẩm được cung cấp cho khách hàng, trước tiên họ sẽ thực hiện kiểm thử beta. Nếu có bất kỳ thay đổi nào được yêu cầu hoặc nếu bất kỳ lỗi nào tồn tại, thì sẽ báo cáo cho nhóm kỹ thuật. Một khi những lỗi đó được khắc phục hoặc các lỗi là cố định thì việc triển khai cuối cùng sẽ xảy ra. Maintenance Bảo trì Sau khi đưa sản phẩm phần mềm cho khách hàng sử dụng nếu phát sinh lỗi và cần giải quyết theo thời gian thì sẽ được đưa lại bộ phận chăm sóc để khắc phục. Có rất nhiều mô hình phát triển phần mềm trong SDLC như thác nước, mô hình chữ V, xoắn ốc… Nhưng thác nước là mô hình SDLC truyền thống nổi tiếng và được nhiều người biết đến rộng rãi nhất. Nó chỉ thực hiện theo một quy trình tuần tự, chảy đều đặn xuống dưới như một dòng thác và được sử dụng trong quá trình phát triển phần mềm. Không thể thay đổi bất cứ điều gì khi phát sinh yêu cầu của khách hàng, vì nó luôn tuân theo một thứ tự nhất định. Điều này dẫn đến việc phải đối mặt với một số vấn đề như khách hàng sẽ không nhận được sự hài lòng, yêu cầu sẽ được chờ xử lý, không có lợi nhuận, lãng phí thời gian. 2. AGILE Nhịp độ môi trường kinh doanh ngày càng nhanh buộc các công ty phải nhanh chóng thay đổi để đáp ứng với các điều kiện thị trường đang biến động. Để có thể duy trì tính cạnh tranh, các sản phẩm cần phải thích ứng với những thay đổi, nhu cầu trên thị trường, cho ra các tính năng mới và bổ sung với tốc độ nhanh. Do đó, phần lớn các công ty về phần mềm hiện nay đang chuyển sang mô hình Agile. Agile là một quy trình có nhiều khung công tác như SCRUM, Kanban, Scrumban, vv SCRUM được khởi xướng bởi Ken Swaber vào năm 1995. Nó là một trong các quy trình phát triển Agile vì nó có chứa tất cả các đặc điểm cốt lõi của Agile . SCRUM là một nhóm hoạt động, được ví như là một bao gói, trong đó mọi người trong nhóm cùng nhau thực hiện các công việc. Nó thực hiện dự án với thời gian và chi phí tối thiểu. SCRUM là quy trình mạnh và có cấu trúc thể hiện rõ nhất của Agile. Người ta nói rằng “SCRUM giống như một người mẹ chồng. Mong đợi bạn tuân theo mọi yêu cầu mà nó đã xác định và tuyệt vời trong việc chỉ ra các sai sót ”. Có một số bước cụ thể, không thay đổi trong quy trình Scrum. Bao gồm Product backlog Product Backlog là danh sách các chức năng cần được phát triển của sản phẩm. Danh sách này do Product Owner quyết định. Nó thường xuyên được cập nhật để đáp ứng được nhu cầu thay đổi của khách hàng cũng như các điều kiện của dự án. Sprint planning Như chúng ta đã biết ở trên Sprint là một giai đoạn phát triển có thời gian từ 2-4 tuần. Để chuẩn bị cho mỗi Sprint team cần phải họp để xác định những chức năng nào story sẽ phát triển trong giai đoạn này sprint backlog, kết quả đầu ra dự kiến Goal, kết quả Release, Estimate ước lượng ai làm việc gì và thảo luận các giải pháp. Tất cả được ghi thành biên bản để có cơ sở thực hiện và Review sau này. Backlog refinement/grooming Vào cuối một sprint, nhóm phát triển và PO phải đảm bảo backlog đã sẵn sàng cho sprint tiếp theo. Nhóm có thể loại bỏ các chức năng không liên quan, tạo vấn đề mới, đánh giá lại mức độ ưu tiên của các vấn đề hoặc chia nhỏ các yêu cầu của người dùng thành các tác vụ nhỏ hơn. Mục đích của cuộc họp này là đảm bảo việc tồn đọng chỉ chứa các mục có liên quan, chi tiết, và đáp ứng các mục tiêu của dự án. Daily Scrum meetings là một cuộc họp đứng lên 15 phút, nơi mỗi thành viên trong nhóm nói về mục tiêu của họ và bất kỳ vấn đề nào nảy sinh. cuộc họp diễn ra mỗi ngày trong Sprint, giúp dễ dàng theo dỗi các công việc đang thực hiện , chưa thực hiện hay sắp thực cuộc họp này mỗi người sẽ phải tự trả lời 3 câu hỏi Hôm qua đã làm những gì ? Có gặp khó khăn gì không? Hôm nay sẽ làm gì ? Sprint review meeting Vào cuối mỗi Sprint, nhóm trình bày công việc họ đã hoàn thành tại cuộc họp đánh giá. Cuộc họp này phải trình bày trực tiếp, không thông qua báo cáo hay bản trình bày PowerPoint. Sprint retrospective meeting Vào cuối mỗi Sprint, nhóm nghiên cứu phản ánh mức độ làm việc với nhau và thảo luận về bất kỳ thay đổi nào cần được thực hiện trong Sprint tiếp theo. Nhóm có thể nói về những gì diễn ra tốt đẹp trong thời gian Sprint vừa qua , điều gì đã xảy ra và những gì họ có thể làm khác đi. 3. So sánh giữa quy trình phát triển phần mềm truyền thống Mô hình Thác nước và SCRUM Agile STT Mô tả SDLC truyền thống SCRUM 1 Đối tượng Phân tích nghiệp vụBA,Quản lý chu trình, Quản lý dự án, Phát triển phần mềm Dev,Kiểm thử phần mềm Test,Thiết kế/ giao diện người dùng Người chịu tránh nhiệm sản phẩm PO,Đảm bảo sự vận hành Scrum Master, Nhóm Scrum chức năng chéo 2 Quy trình Phân tích, thiết kế, phát triển. Triển khai cần được hoàn thành cho mọi giai đoạn của dự án. Mỗi giai đoạn của dự án có nhiều lần lặp lại. Phân tích, thiết kế, phát triển. Triển khai cần phải được hoàn thành trong mỗi vòng lặp. 3 Thời gian chuyển giao Dựa trên thời gian dự án tổng thể Từ 2-4 tuần 4 Kích thước nhóm Số thành viên nhóm là tập trung, quy mô nhóm có thể thay đổi từ 2 đến 100 thành viên. Chia nhỏ các nhóm lớn thành các nhóm nhỏ, từ 2 đến 8 thành viên nhóm có sự phối hợp và cộng tác cao. 5 Tính khả dụng của khách hàng Sự tham gia của khách hàng ngày càng quan trọng hơn. Cách tiếp cận hợp tác hơn, nơi sự tham gia của khách hàng được đề cao. 6 Thay đổi cách quản lý Phải dựa vào các điều khoản của hợp phí cho một thay đổi có thể rất cao nếu thay đổi có tác động lớn hơn đến thiết kế. Thích ứng với những thay đổi. Chi phí cho một thay đổi thấp hơn khi phạm vi được xác định cho các thời gian chuyển giao nhỏ hơn. 7 Độ ưu tiên Nhấn mạnh vào việc thực hiện các xây dựng đã được đưa ra trong yêu cầu. Làm tăng việc có các tính năng được xây dựng mà không đem lại giá trị cho ứng dụng. Tập trung vào việc thực hiện các tính năng có giá trị quan trọng trước tiên. Giảm nguy cơ có các tính năng không sử dụng được / không được sử dụng được tích hợp trong ứng dụng. 8 Kích thước dự án Tốt nhất là dự án dài hạn cái mà đòi hỏi nhiều tài liệu và nhiều sự tham gia của các bên liên quan. Linh hoạt cho các dự án nhỏ từ 2-3 tuần đối với các dự án chạy trong nhiều năm với nhau. 9 Tài trợ/ ROI Hoạt động tốt với các dự án có kinh phí cố định trong đó phạm vi và độ lệch thỏa thuận bị hạn chế. ROI đạt được sau khi triển khai thành công dự án. Hoạt động tốt với tất cả các dự án T & M và không cố định. Với nhóm phù hợp, ROI có thể được nhìn thấy trong một khoảng thời gian ngắn hơn. 10 Suy nghĩ tổng quan Ngày nay, có một số doanh nghiệp lớn sử dụng quy trình thác nước trong ngành công nghiệp phần mềm. Tôi cảm thấy quy trình này thích hợp nhất với các lĩnh vực như xây dựng, ví dụ xây dựng một cây cầu. Nhưng đã có nhiều ý kiến cho rằng, ngay cả các lĩnh vực xây dựng hiện nay cũng đang chuyển sang quy trình Lean, Kanban Agile dựa trên sự tiếp cận để loại bỏ các hoang phí từ quá trình của họ. Scrum phù hợp hơn với môi trường phát triển nhịp độ nhanh hoặc ngành sản xuất liên tục. 4. Kết luận Quy trình SDLC truyền thống Thác nước hay quy trình SDLC mới SCRUM quy trình nào cũng đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, việc lựa chọn quy trình nào là phụ thuộc vào tổ chức và dự án thực hiện SCRUM là tốt nhất nếu các yêu cầu thường xuyên thay đổi. WATERFALL là tốt nhất nếu không có thay đổi trong yêu cầu. Bạn nên sử dụng Waterfall cho các dự án mà bạn đã có tất cả tài liệu từ đầu đến cuối, và không cần phải thay đổi gì khi thực hiện. Bất cứ khi nào bạn phải đối mặt với một dự án chưa có mục tiêu cuối rõ ràng và yêu cầu phải đổi mới liên tục, hãy dùng Agile. Tài liệu tham khảo
1CHUYÊN ĐỀ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌCCâu 1 Phân tích một số cách tiếp cận phát triển chương lờiChương trình đào tạo vừa là cơng cụ vừa là thước đo trình độ phát triểnkinh tế - xã hội và khoa học - kỹ thuật của mỗi quốc gia cũng như của mỗitrường đại học. Theo đó, việc xây dựng chương trình đào tạo phụ thuộc vào tầmnhìn và sứ mệnh của cơ sở giáo dục trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Ngàynay, quan niệm về chương trình giáo dục đã rộng hơn, đó khơng chỉ là việc trìnhbày danh mục các nội dung giảng dạy. Có rất nhiều quan niệm khác nhau vềchương trình đào tạo ở nước ta và ngay cả trong các văn bản tiếng anh. Chỉ xinnêu ra đây một vài quan niệm phản ảnh được những nét cơ bản nhất của chươngtrình đào tạo và được nhiều người đồng tình. Wentling 1993 cho rằng “chươngtrình đào tạo là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo đó có thể làmột khóa học kéo dài vài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm. Bản thiết kếtổng thể đó cho biết tồn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ ra những gì có thểtrơng đợi ở người học sau khóa học, nó phác họa ra qui trình cần thiết để thựchiện nội dung đào tạo, nó cũng cho biết các phương pháp đào tạo và các cáchthức kiểm tra đánh giá kết quả học tập, và tất cả những cái đó được sắp xếp theomột thời gian biểu chặt chẽ”.Chương trình giáo dục là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng thểcác hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các mụctiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độnội dung học tập, các phương tiện, phương pháp, cách thức tổ chức học tập,cách đánh giá kết quả học tập … nhằm đạt được các mục tiêu học tập đề ra.nguyễn hữu chí, viện khgd 2002.Về cấu trúc của một chương trình đào tạo, tyler 1949 cho rằng chươngtrình đào tạo phải bao gồm 4 thành tố cơ bản của nó, đó là 1 mục tiêu đào tạo;2 nội dung đào tạo; 3 phương pháp và qui trình đào tạo và 4 cách đánh giá kếtquả đào vậy, quan niệm về chương trình đào tạo khơng đơn giản là cách địnhnghĩa mà nó thể hiện rất rõ quan điểm về đào tạo. Ở việt nam, chương trình phảicân đối về khối lượng nội dung đào tạo giữa lí thuyết và thực hành theo mục tiêuđã xác định và phù hợp với chương trình khung do Bộ GD&ĐT quy định đốivới từng đối tượng tuyển sinh và ngành nghề đào tạo. Chương trình phải có tínhkhả thi, bố trí hợp lí theo quy định của khung chương triển chương trình giáo dục là một quá trình liên tục nhằm hoàn thiện 2khơng ngừng chương trình giáo dục. Theo quan điểm này chương trình giáo dụclà một thực thể khơng phải được thiết kế một lần và dùng cho mãi mãi, mà đượcphát triển, bổ sung, hoàn thiện tùy theo sự thay đổi của trình độ phát triển kinh tế- xã hội, của thành tựu khoa học - kỹ thuật và công nghệ, và cũng là theo yêucầu của thị trường sử dụng lao động. Nói cách khác, một khi mục tiêu đào tạocủa nền giáo dục quốc dân thay đổi để đáp ứng nhu cầu xã hội, thì chương trìnhgiáo dục cũng phải thay đổi theo, mà đây lại là quá trình diễn ra liên tục nênchương trình giáo dục cũng phải được khơng ngừng phát triển và hồn phát triển chương trình đào tạo là một quá trình liên tục phát triển vàhồn thiện chương trình đào tạo hồ quyện vào q trình đào tạo và chí ít là phảibao gồm các bộ phận/giai đoạn chủ yếu ->Thiết kế-> Triển khai-> Điềuchỉnh-> Thiết kế lại->.Khi thiết kế chương trình có thể theo tiếp cận nội dung; tiếp cận mục tiêuhay tiếp cận quá trình phát triển. Tiếp cận nội dung content approach, là tiếpcận cổ điển, ở đây coi chương trình là một bản liệt kê nội dung đào tạo theo trìnhtự và thời lượng được ấn định; tiếp cận mục tiêu objective approach coi việcxác định nhu cầu và mô tả mục tiêu cụ thể, tường minh làm căn cứ cho các khâusau của thiết kế chương trình; tiếp cận phát triển developmental approach làtiếp cận hiện đại; trong tiếp cận này coi trọng tính cập nhật của chương trình vớimục tiêu năng lực của sản phẩm đào tạo luôn đáp ứng và theo kịp nhu cầu xã hộivì vậy chương trình ln được điều chỉnh, “phát triển”. Như vậy, tại mỗi thờiđiểm của lịch sử phát triển giáo dục, các quốc gia cũng như mỗi cơ sở đào tạocần có cách tiếp cận riêng phù hợp với sứ mệnh của riêng mình. Vì vậy, các nhàquản lý giáo dục, nhà sư phạm cần hiểu bản chất của từng cách tiếp cận chươngtrình đào tạo. Mỗi cách tiếp cận đều có những đặc điểm riêng, có ưu điểm vàhạn chế riêng. Vì vậy, các nhà quản lý và các nhà sư phạm cần hiểu được bảnchất của chương trình đào tạo để xây dựng phương án sao cho phù Cách tiếp cận theo nội dung The content approachTrong giai đoạn đầu của giáo dục, giáo dục chỉ được coi là “quá trìnhtruyền thụ kiến thức”. Nhiều người cho rằng chương trình đào tạo chỉ là bảnphác thảo nội dung đào tạo. Với quan niệm này, giáo dục là quá trình truyền thụnội dung - kiến thức. Đây là cách tiếp cận kinh điển trong xây dựng chươngtrình đào tạo, theo đó mục tiêu của đào tạo chính là nội dung kiến thức. Cáchtiếp cận này hiện nay rất phổ biến ở nước ta. Theo cách tiếp cận này, chươngtrình đào tạo chẳng khác gì bản mục lục của một cuốn sách giáo khoa. Phươngpháp giảng dạy thích hợp với cách tiếp cận này phải nhằm mục tiêu truyền thụđược nhiều kiến thức nhất, người dạy cũng chỉ cần tìm các phương pháp phù 3hợp để truyền đạt khối kiến thức đó một cách tốt nhất, vơ hình chung đẩy ngườihọc vào thế thụ động trong tiếp thu, người học hoàn toàn thụ động nghe theongười dạy. Việc đánh giá kết quả học tập sẽ gặp khó khăn vì mức độ nơng sâucủa kiến thức không được thể hiện rõ ta thừa nhận vai trò rất quan trọng của khối kiến thức mà ngườidạy, người học phải cùng nhau đạt tới. Nhưng quá trình đào tạo khơng chỉ đơngiản như vậy. Chúng ta sống trong thời đại bùng nổ thông tin với những tiến bộinhư vũ bão của khoa học và công nghệ nhất là công nghệ thông tin viễn thông,kiến thức gia tăng theo hàm mũ. Cứ 5-7 năm khối lượng thông tin tồn cầu lại tănggấp đơi. Và nền giáo dục chỉ đơn thuần là quá trình “ truyền thụ kiến thức” vớithời gian đào tạo chính khóa gần như cố định thậm chí cịn giảm đi, CHƯƠNGTRÌNH ĐÀO TẠO được thiết kế theo nội dung sẽ bế tắc vì không thể truyền thụ đủnội dung trong một thời gian hạn chế, người dạy- người học không đủ khả năng đểtruyền thụ cũng như tiếp thu khối kiến thức khổng lồ do thơng tin mang lại. Hơnnữa, cho dù có được kiến thức tối đa thì nó cũng nhanh chóng bị lạc cạnh đó, rất khó có thể đánh giá được mức độ hồn thành chươngtrình thiết kế theo kiểu này. Nguyên nhân là chương trình mới là những nét phácthảo về nội dung, kiến thức, kỹ năng mà người dạy cần rèn luyện cho người thân người thiết kế nắm được mức độ, phạm vi, khối lượng kiến thức, kỹnăng cần có ở mỗi ngành học, mơn học thang bậc kiến thức, kỹ năng. Ngườidạy trực tiếp chưa chắc đã có khái niệm đầy đủ về điều đó và hệ quả là sự tùytiện trong biên soạn chương trình giảng dạy, đề cương bài giảng. Người học sẽcịn bỡ ngỡ hơn vì khơng biết sẽ phải học, phải thi như thế nào. Nhược điểmchính của cách tiếp cận trong thiết kế chương trình giáo dục theo nội dung làkhó xác định được mục tiêu chi tiết, cụ thể, định hướng để thầy và trò cùng nhauđi tới, đồng thời qua đó xác định được chuẩn để kiểm tra, đánh giá thành quảgiảng dạy- học tập của giáo viên và sinh nhà giáo dục học trong và ngồi nước cũng có những nhận xét tươngtự về cách tiếp cận này. Theo Kelly, ý tưởng coi giáo dục là quá trình truyền thụkiến thức, và chương trình giáo dục chú trọng trước hết đến nội dung là quá giảnđơn, bởi lẽ nó bỏ qua nhiều khía cạnh khác không kém phần quan trọng khi thảoluận và thiết kế chương trình giáo dục. Kelly cũng cho rằng, cách tiếp cận nàykhơng khuyến khích hoặc bắt ta có trách nhiệm gì với người học- những ngườitiếp thu nội dung kiến thức và là đối tượng của quá trình truyền thụ kiến thức, vàcũng khơng có trách nhiệm gì về sự tác động của nội dung kiến thức lên ngườihọc. Còn người học chỉ có cách học tốt nhất những gì thầy truyền thụ cho trường hợp kiến thức có tác động nhất định tới người học thì cũng khơng 4có phương thức nào kiểm tra đánh giá chính xác được hiệu quả của quy trìnhđào tạo, mà chỉ đánh giá kết quả học tập thông qua xác định lượng kiến thức, kỹnăng mà người học tiếp thu và đồng hóa tiếp cận theo nội dung cho đến nay đã trở nên lạc hậu, phần lớn quốc giavà trường đại học khơng cịn sử dụng cách tiếp cận này trong việc xây dựng chươngtrình đào Cách tiếp cận theo mục tiêu The objective approach hay cách tiếpcận hành vi behavior approachVào giữa thế kỷ 20 cách tiếp cận mục tiêu bắt đầu được sử dụng ở Mỹ. Cáchtiếp cận theo mục tiêu, hay nói đầy đủ hơn là cách tiếp cận theo mục tiêu đàotạo, có cơ sở là mục tiêu đào tạo được xây dựng một cách chi tiết, bao gồm cảnội dung kiến thức, kỹ năng cần rèn luyện cho người học, phương pháp đào tạo,nguồn học liệu, cũng như phương thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập đốichiếu với mục tiêu đào tạo. Mục tiêu đào tạo ở đây cũng là mục tiêu đầu ra củaquy trình đào tạo thể hiện qua những thay đổi về hành vi người học từ lúc vàotrường tới lúc ra trường và tham gia vào thị trường lao cách tiếp cận này, nội dung, kiến thức, kỹ năng vẫn được coi trọng,song chỉ là những loại kiến thức, kỹ năng nhằm giúp đạt tới hệ mục tiêu đào tạođã được xác định từ trước. Theo cách tiếp cận này, dựa trên mục tiêu GD-đàotạo đã được xác định một cách chi tiết, cụ thể để có thể là chuẩn để vươn tới vàđo lường đánh giá được, người thiết kế chương trình chọn nội dung kiến thức,kỹ năng cần đào tạo, phương pháp đào tạo dạy - học, cũng như hình thức kiểmtra đánh giá kết quả đào tạo phù hợp. Có thể biểu diễn bằng sơ đồ sauMột chương trình giáo dục được thiết kế trên cơ sở mục tiêu đào tạo chota một “khuôn mẫu chuẩn” được hình thành dẫn qua các giai đoạn khác nhau5của quy trình đào tạo một khóa học. Đồng thời chương trình đó cũng giúp xácđịnh mục tiêu riêng biệt cho từng nhóm mơn học, thậm chí từng mơn học cụ thểcấu thành nên chương trình. Căn cứ vào đó người dạy người học có thể lựa chọnnội dung kiến thức các phương pháp, các chiến lượng dạy - học tương ứng, cácphương tiện phù hợp nhằm đạt mục tiêu. Hơn nữa, một khi “chuẩn” đã được xácđịnh, các phương tiện đạt chuẩn cũng đã hình thành, thì việc đánh giá mức độđạt chuẩn KT- ĐT kết quả đào tạo cũng sẽ được tiến hành một cách chính xác,khoa học. Kiểm tra - đánh giá kết quả đào tạo ở đây thực chất là sự đối chiếu kếtquả đào tạo với hệ mục tiêu của quy trình đào tạo đã xác kế chương trình giáo dục trên cơ sở mục tiêu đào tạo rõ ràng có mộtsố ưu điểm nhất địnhMột là mục tiêu đào tạo cụ thể và chi tiết tạo thuận lợi cho việc đánh giá hiệuquả và chất lượng chương trình đào xác định mục tiêu đào tạo một cách cụ thể, chi tiết để có thể đánh giáđược nên việc đánh giá kết quả đào tạo là hồn tồn có thể thực hiện được mộtcách chính xác, khoa là Người học và người dạy biết rõ cần phải dạy và học như thế nàođể đạt được mục xác định mục tiêu đào tạo cụ thể, chi tiết giúp xác định mục tiêu chitiết cụ thể của từng nhóm mơn học, thậm chí từng mơn học. Qua đó người dạyngười học biết rõ mình phải dạy- học những loại kiến thức, kỹ năng gì, mức độrộng hẹp, nơng sâu ra sao. Hơn nữa từ đây họ sẽ tìm ra những phương sách phùhợp với từng đối tượng đề đạt mục tiêu một cách tốt là Cho phép xác định hình thức đánh giá kết quả học tập của người niệm “chất lượng đào tạo”, “chất lượng giáo dục” cũng sẽ được cụthể hóa và được đánh giá một cách khách quan, cơng bằng hơn. Như vậy, tínhmục tiêu hay tính hiệu quả làm cho việc thiết kế chương trình giáo dục và tổchức đào tạo mang tính khoa học, chính xác hơn, tổ chức q trình dạy - họchợp lí hơn nhằm đạt mục tiêu với các hoạt động tương ứng và có thể đo lườngđánh giá nhiên cách tiếp cận này cũng không tránh được những nhược điểmThứ nhất, sản phẩm đào tạo phải đồng nhất ở đầu ra trong khi nguyên liệu đầuvào là những con người lại rất khác nhau về năng lực và hoàn cảnh, nguồn gốc, vănhóa… Nói cách khác, giáo dục khơng đơn thuần là công cụ để rèn đúc ra nhữngsản phẩm theo một “khuôn mẫu” cố định như một dây chuyền công nghệ trong 6đó “ngun liệu đầu vào”, “quy trình cơng nghệ”, “tiêu chuẩn sản phẩm” đượcquy định một cách ngặt hai, giáo dục khơng chỉ là q trình truyền thụ kiến thức, không chỉ làviệc rèn luyện người học theo những mục tiêu xác định, giáo dục cịn là qtrình phát triển con người, giúp con người phát huy tối đa kinh nghiệm, tiềmnăng sẵn có của bản thân để họ tự hồn thiện, tự khẳng định mình và sẵn sàngthích nghi với cuộc sống ln biến động. Vì vậy, việc rèn đúc mọi người họctheo một khuôn mẫu nhất định làm người học vẫn ở trạng thái bị động, giáođiều, máy móc, thiếu tính sáng tạo. Các khả năng tiềm ẩn của mỗi cá nhân ngườihọc không được quan tâm phát huy, nhu cầu và sở thích riêng của người học khóđược đáp dù cịn nhiều ý kiến bàn cãi về điểm yếu, điểm mạnh, song cách tiếpcận theo mục tiêu trong thiết kế chương trình giáo dục với phương cách khoahọc trong lựa chọn nội dung đào tạo, tổ chức thực thi chương trình giáo dục chắcchắn sẽ còn phát huy tác dụng trong tương Cách tiếp cận phát triển developmental approachTheo cách tiếp cận này chương trình giáo dục được xem là q trình, cịngiáo dục là sự phát triển Kelly. Cách tiếp cận này được hiểu là cách tiếp cậnphát triển trong xây dựng chương trình dạy học đại học định hướng phát triểnnăng lực, nay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra. Trên thực tế, cáchtiếp cận này đã được đưa vào nghiên cứu và bàn luận trên thế giới từ những năm90 của thế kỷ XX và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc chất của giáo dục theo cách tiếp cận phát triển nhằm mục tiêu pháttriển năng lực người học. Bởi lẽ giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảochất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện cácphẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tìnhhuống thực tiễn, nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tìnhhuống của cuộc sống, nghề nghiệp và nhấn mạnh vai trò của người học với tưcách chủ thể của q trình nhận thức. Nói cách khác, giáo dục là sự phát triểnvới nghĩa là phát triển con người, phát triển mọi tiềm năng, kinh nghiệm để cóthể làm chủ được bản thân, đương đầu với thử thách một cách chủ động, sángtạo. Giáo dục là một quá trình tiếp diễn liên tục suốt đời, do vậy mục đích cuốicùng khơng phải là thuộc tính của nó. Cách tiếp cận này chú trọng đến sự pháttriển khả năng hiểu biết, tiếp thu ở người học hơn là truyền thụ nội dung kiếnthức đã được xác định từ trước. Theo Kelly, theo cách tiếp cận này giáo dục làquá trình mà nhờ đó mức độ làm chủ bản thân làm chủ vận mệnh tiểm ẩn ở mỗingười được phát triển một cách tối đa. 7Tất cả những điều nói trên địi hỏi phải thiết kế chương trình giáo dục nhưmột quá trình bao gồm các hoạt động cần thực hiện giúp người học phát triển tốiđa những kinh nghiệm, năng lực tiềm ẩn, tố chất sẵn có để đáp ứng những mụctiêu nói giống với cách tiếp cận của chương trình định hướng nội dung,cách tiếp cận của chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực tập trungvào việc mô tả chất lượng đầu ra. Với cách tư duy này thì chất lượng đầu rađược coi là “sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học. Theo cách tiếp cận này,việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điềukhiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập của người vậy, chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực có nhữngđặc điểm sau- Không quy định những nội dung dạy học chi tiết mà quy định kết quảđầu ra mong muốn của q trình giáo dục. Trên cở sở đó, đưa ra những hướngdẫn chung về việc lựa chọn nội dung, phương pháp, tổ chức và đánh giá kết quảdạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu đào tạo tức là đạt được kết quảđầu ra mong Mục tiêu học tập được hiểu là kết quả học tập mong muốn thường đượcmô tả thông qua hệ thống các năng lực. Kết quả học tập mong muốn sẽ được môtả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá Người học cần đạt được những kết quả yêu cầu đã được quy định trongchương Việc đưa ra các chuẩn đào tạo nhằm đảm bảo quản lý chất lượng giáodục theo định hướng kết quả đầu vi bài tiểu luận, bản thân muốn nhấn mạnh sự khác biệt giữachương trình định hướng nội dung và chương trình định hướng phát triển, từ đócó thể thấy được xu hướng tiếp cận trong giáo dục đại học Xem bảng 1.Bảng 1. Bảng so sánh chương trình định hướng nội dung và chươngtrình định hướng phát triển năng lựcChương trìnhhướng nội dungMục tiêu giáo dụcđịnh Chương trình định hướngphát triển năng lựcMục tiêu dạy học đượcmô tả không chi tiết vàkhông nhất thiết phảiquan sát, đánh giá quả học tập cần đạt đượcmơ tả chi tiết và có thể quansát, đánh giá được; thể hiệnđược mức độ tiến bộ của 8Chương trìnhhướng nội dungđịnh Chương trình định hướngphát triển năng lựcngười học một cách liên dung giáo dụcViệc lựa chọn nội dungdựa vào các khóa họcchun mơn, khơng gắnvới các tình huống chọn những nội dungnhằm đạt được kết quả đầu rađã quy định, gắn với các tìnhhuống thực trình chỉ quy địnhNội dung được quy địnhnhững nội dung chính, khơngchi tiết trong chươngquy định chi viên chủ yếu là người tổchức, hỗ trợ người học tự lựcGiáo viên là người và tích cực lĩnh hội tri thụ tri thức, là Tập trung phát triển khả năngtrung tâm của quá trình giải quyết vấn đề, khả năngPhương pháp dạydạy tiếp,…;họcNgười học tiếp thu thụ Chú trọng sử dụng các quanđộng những tri thức điểm, phương pháp và kỹđược quy định dạy học tích cực; cácphương pháp dạy học thínghiệm, thực thức dạy họcTổ chức hình thức học tập đadạng; chú ý các hoạt động xãhội, ngoại khóa, nghiên cứuChủ yếu dạy học lýkhoa học, trải nghiệm sángthuyết trên lớp đẩy mạnh ứng dụng côngnghệ thông tin và truyềnthông trong dạy và chí đánh giá dựa vàoTiêu chí đánh giá được năng lực đầu ra, có tính đếnĐánh giá kết quảxây dựng chủ yếu dựa sự tiến bộ trong quá trình họchọc tập của ngườitrên sự ghi nhớ và tái tập, chú trọng khả năng vậnhọchiện nội dung đã trong các tình huốngthực tiễn. 9Như vậy, so với chương trình định hướng nội dung thì chương trình địnhhướng phát triển năng lực đã chuyển đổi trọng tâm của quá trình dạy học từngười dạy sang người học. Từ đó, thể hiện được hướng đích chất lượng giáo dụcthông qua sự tiến bộ của người học. Vai trò của người thầy được chuyển đổi từvị trí trung tâm sang vị trí người hỗ trợ, truyền cảm hứng để phát huy tính tựgiác và chủ động của người học, từ đó đạt được mục tiêu của chương trình đàotạo mơn học/khóa tóm lại, theo cách tiếp cận này với quan điểm giáodục là phát triển cịn chương trình giáo dục là q trình, thì người thiết kế chútrọng nhiều hơn đến khía cạnh nhân văn của chương trình giáo dục. Cụ thể là,đối tượng đào tạo, từng cá thể trong quy trình đào tạo với nhu cầu và hứng thúcủa họ được xem là điểm xuất phát của việc xây dựng chương trình giáo trường chỉ cung cấp các khối kiến thức module cần thiết và giới thiệu cácphương thức tổ hợp các khối kiến thức để đi tới một văn bằng xác định. Mỗingười học, căn cứ vào nhu cầu, hứng thú của bản thân, vào kinh nghiệm, kiếnthức đã tích lũy được trước đó, có thể có sự tư vấn của cố vấn học tập, tự xâydựng cho mình một chương trình giáo dục riêng, thỏa mãn mục tiêu của bảnthân. Cũng trong cách tiếp cận này, khi thực hiện chương trình, vai trò của ngườithầy teacher chuyển thành người hướng dẫn instructor người học được rènluyện cách tự học, tự phát hiện và giải quyết vấn đề, tự điều chỉnh quá trình tựđào tạo của mình với sự tư vấn của thầy. Tuy nhiên cách tiếp cận này cũng nhậnkhơng ít những phê phán, chỉ trích. Người ta cho rằng cách tiếp cận này chú ýnhiều đến nhu cầu, sở thích của con người mà nhu cầu và sở thích lại hết sức đadạng, mà không phải ai cũng xác định nổi. Đó là chưa nói nhu cầu sở thích củacon người cũng dễ thay việc nhận thức được những ưu điểm và hạn chế của cách thức tiếpcận này sẽ mang lại những thông tin giá trị trong việc điều chỉnh cách thức tiếpcận cũng như lựa chọn phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với đối tượngngười học, từ đó đưa ra những thơng tin phản hồi với cấp quản lý trong việc xâydựng cũng như thiết kế khung chương trình đào Tiếp cận hệ thốngAlvin Toffler, nhà tương lai học thường có những dự đốn trong vịng 30năm, đã từng nói “Tình trạng mù chữ của năm 2000 sẽ không phải là người takhông biết đọc, biết viết, mà bởi vì họ khơng thể học và học mãi”. Trong trườnghợp này, những khái niệm truyền thống về nhà trường, lớp học, hồ sơ lưu trữ chắn sẽ phải thay vấn đề quan trọng hơn là chương trình giáo dụcphải được thiết kế và tổ chức sao cho mọi người có thể được tiếp cận ở mọi lúc,mọi nơi thuận lợi nhất cho quan niệm chương trình là bản thiết kế tổng thể quá trình đào tạo từ 10khâu đầu tuyển chọn đến khâu cuối kết thúc khoa học với một hệ thống cáchoạt động đào tạo theo một trình tự chặt chẽ, kết hựop và tác động qua lại lẫnnhau nhằm thực hiện các nội dung và đạt được các mục tiêu cụ thể trong các giaiđoạn của quá trình đào tạo. Tiếp cận hệ thống cho phép thiết kế và xây dựng cácchương trình đào tạo có tính hệ thống, chặt chẽ và logíc cao, làm rõ vai trị, vịtrí, tác dụng của từng khâu, từng nội dung chương trình đào tạo đồng thời bảođảm mối liên hệ, tác động qua lại giữa các thành tố của chưong liệu tham khảo[1] Trần Thị Hồi 2020. Bài giảng Phát triển chương trình và tổ chứcquá đào tạo đại học. Đại học Quốc gia Hà Nội.[2] Nguyễn Đức Chính 2011, Phát triển chương trình đào tạo, Tài liệugiảng dạy, Trường Đại học Giáo dục, Hà Nội.[3] Phát triển chương trình đào tạo, Trần Khánh Đức, Đại HọcQuốc Gia Hà 2 Vận dụng kiến thức về phát triển chương trình và tổ chức quátrình đào tạo đại học để xây dựng chuẩn đầu ra về kiến thức, kỹ năng 1mơn học mà đồng chí tham gia giảng lờiXây dựng chuẩn đầu ra môn học “Công nghệ xây dựng cầu hiện đại”1. Chuẩn đầu ra về kiến thức- Nhắc lại được các biện pháp, chu trình cơng nghệ thi cơng móng đườngkính lớn; thi cơng kết cấu nhịp cầu bê tơng cốt thép;- Giải thích được sự khác nhau khi thi công trụ cao, trụ tháp bằng vánkhn leo và ván khn trượt;- Giải thích được những nguyên nhân dẫn tới những sự cố xảy ra trongq trình thi cơng cầu;- Phân tích được những biện pháp thi công phân đoạn kết cấu nhịp dầmcông nghệ thi công đúc hẫng, công nghệ đúc đẩy và công nghệ đúc trên đà giáodi động, công nghệ lắp hẫng, lắp phân đoạn trên trụ tạm và công nghệ thi cônglắp xâu táo;- Vận dụng các kiến thức đã học, đi đến so sánh, đánh giá tổng quát các11công nghệ xây dựng cầu hiện đại áp dụng vào một cơng trình cầu cụ thể. Đánhgiá tính hợp lý của các công nghệ khi áp dụng thi công cây cầu Chuẩn đầu ra về kỹ năng- Kết hợp được các phần mềm xây dựng cầu phục vụ cho q trình tínhtốn, thiết kế thi cơng cầu;- Xử lý được các tình huống thường gặp trong quá trình thi công thi côngphân đoạn kết cấu nhịp cầu bê tông cốt thép;- Xây dựng được các phương án công nghệ thi công một kết cấu nhịp, sosánh và lựa chọn được phương án tối ưu khi áp dụng một cây cầu với một sốliệu cho liệu tham khảo[1] Phát triển chương trình và tổ chức quá đào tạo, Đặng XuânHải, Đại học Quốc gia Hà Nội.[2] Phát triển chương trình đào tạo, Trần Khánh Đức, Đại HọcQuốc Gia Hà THỰC HIỆNPhạm Xuân Hòa
Ngày đăng 08/07/2014, 2033 Bài giảng Phát triển chương trình và tổ chức quá trình đào tạo Trần Ngoc GiaoBài giảng Phát triển chương trình và tổ chức quá trình đào tạo trình bày về các bối cảnh tác động đến giáo dục và đào tạo như toàn cầu hóa, kinh tế tri thức, công nghệ thông tin; các bước phát triển chương trình, kết quả của thiết kế chương trình đào 52p cheap_12 080720 - Xem thêm -Xem thêm Bài giảng Phát triển chương trình và tổ chức quá trình đào tạo, Bài giảng Phát triển chương trình và tổ chức quá trình đào tạo,
Para que um negócio tenha soluções tecnológicas de qualidade e consiga atingir seus objetivos por meio delas, é indispensável que seus gestores saibam optar pelo ciclo de desenvolvimento de software mais indicado para suas necessidades. Nos últimos anos, os modelos de cascata e SCRUM metodologia ágil de desenvolvimento de software têm mudado a forma como as empresas definem suas ações. Cada opção conta com fundamentos e desdobramentos próprios – e conhecer suas principais peculiaridades é indispensável para optar pela metodologia mais alinhada com as demandas da organização e dos profissionais de TI. A seguir, conheça melhor os conceitos de ambos os modelos, além de suas principais vantagens e desvantagens. Depois, veja como é a aplicação de cada caso dentro dos negócios! Quais os principais modelos de ciclo de desenvolvimento de software? Como mencionamos anteriormente, é indispensável conhecer os detalhes mais importantes das metodologias de desenvolvimento de software para saber determinar qual é a mais vantajosa para o seu projeto. Confira os principais aspectos sobre cada conceito, suas particularidades mais marcantes e seus prós e contras Modelo Cascata Também chamado de método tradicional de desenvolvimento, o modelo cascata é aquele em que as fases de todo o projeto são sequenciais. Esse ciclo de desenvolvimento de software demanda um longo processo de planejamento e conta com escopo, cronograma e custos fixos. Na metodologia de cascata, as ações só podem avançar quando cada etapa é finalizada. Isso torna seu desenvolvimento mais engessado, mas também com custos e fases mais previsíveis. Seus principais benefícios incluem Garantia de alinhamento sobre as entregas entre o cliente e desenvolvedores logo no início do projeto; Reconhecimento antecipado do escopo dos trabalhos, com mais facilidade para seu acompanhamento; A presença do cliente não é obrigatória ao longo de sua realização, exceto nos testes, reuniões e aprovações que são mais bem definidos; Critérios mais rígidos e processo de desenvolvimento mais cuidadoso, com um projeto mais previsível e completo; Garantia de um design coerente e sem riscos de fragmentações ou desalinhamento entre suas diferentes frentes; Previsibilidade de cronograma e custos de desenvolvimento. Entre as desvantagens, destacam-se Entregas mais lentas e interdependentes; Demanda de um longo planejamento antes da execução; Excesso de documentação; Impossibilidade de mudanças ao longo da execução; Realização de testes somente após o fim da criação, com menor previsibilidade sobre detalhes da experiência dos usuários. SCRUM Metodologia ágil de desenvolvimento de software SCRUM é um ciclo de desenvolvimento de software ágil, em que todo o projeto é dividido em etapas menores, chamadas de Sprints. Para definir quais serão as funcionalidades da solução, é criada uma lista chamada de Product Backlog. Com base nela, uma reunião de planejamento é feita ao início de cada Sprint, definindo quais atividades serão implementadas no mesmo. Todas as tarefas cumpridas em cada Sprint são movidas do Product Backlog para outra lista, chamada de Sprint Backlog. A cada dia em que um Sprint é desenvolvido, o time faz uma reunião prévia, conhecida como Daily SCRUM. Nela, é discutido o que foi realizado no dia anterior, quais foram os eventuais problemas enfrentados e são definidas as ações do período que está começando. Quando um Sprint é finalizado, as funcionalidades implementadas são apresentadas e testadas. Com todas as adequações garantidas, os profissionais iniciam o Sprint seguinte. Ao contrário do modelo cascata, a metodologia SCRUM é flexível, interativa e pode receber eventuais melhorias ao longo de todo processo de desenvolvimento, já que os testes são constantes e as etapas geralmente não são interdependentes. As vantagens mais marcantes da metodologia ágil de desenvolvimento de software SCRUM são Detecção mais rápida de erros e processo mais orgânico de correções; Mais agilidade e menos recursos para sua realização; Flexibilidade que permite melhor adequação e melhorias ao longo do projeto; Obtenção de novos insights e informações ao longo dos ciclos de criação; Melhor comunicação e relacionamento entre os envolvidos com equipes multidisciplinares; Mais autonomia e engajamento dos desenvolvedores; Mais agilidade para criar a solução e colocá-lo no mercado; Maior satisfação dos clientes, com foco total em suas necessidades. Já suas desvantagens incluem Pouca relevância para projetos menores e pouco complexos; Exigência de pleno engajamento em suas boas práticas, que são indispensáveis para o bom andamento do projeto; Exigência de especialistas para a tomada de decisões constantes e muito relevantes; Risco de refatorações muito frequentes caso o escopo não seja muito bem definido no design e arquitetura inicial. No próximo item, descubra quais são as situações mais indicadas para a utilização de cada conceito! Como aplicar cada metodologia? Para que você não erre ao optar pelo ciclo de desenvolvimento de software mais indicado para o seu projeto, confira as principais indicações para o modelo cascata e SCRUM Indicações do Modelo Cascata Projetos com requisitos certos, estáveis e muito bem definidos; Quando há adaptabilidade para troca de equipes de profissionais; Quando há a necessidade de uma documentação mais completa; Se existem restrições de cronograma ou orçamentárias; Projetos menores. Recomendações do Modelo SCRUM Quando há maior necessidade de adaptações ao longo do projeto; Para times que precisam se comunicar com mais eficiência e transparência; Na geração mais rápida de valor, com entregas fracionadas; Caso seja necessário mais velocidade na entrega da solução; Quando há maior demanda de adaptabilidade; Com menor tempo para planejamento – já que o mesmo é feito de maneira breve a cada Sprint; Em projetos mais longos e complexos. Mais do que conhecer as indicações de cada modelo e os benefícios do software integrado pretendidos pela empresa, a escolha do ciclo de desenvolvimento de software mais adequado também deve ser apoiada pela decisão dos melhores profissionais da área. A Monitora é especialista em desenvolvimento, elabora soluções voltadas às necessidades de cada negócio e se adapta ao método de trabalho ideal para cada cliente, seja ele cascata ou SCRUM. Quer garantir um ciclo de desenvolvimento de software alinhado às suas demandas e garantir mais excelência, tanto no método cascata quanto na metodologia ágil de desenvolvimento de software? Então, conheça as nossas soluções!
Tổng Công ty Khí Việt Nam - CTCP; Tập đoàn Dầu khí Việt Nam - PVN hân hạnh đồng hành cùng chương trình "Phát triển sản phẩm chủ lực".Theo Tập đoàn Dệt may Việt Nam, trong 4 tháng đầu năm 2023, xuất khẩu dệt may đạt 11,7 tỉ USD, giảm 20% so với cùng kỳ năm ngoái. Hiện chỉ có thị trường Nhật Bản tăng 6,6%, còn lại thị trường Mỹ và Trung Quốc giảm hơn 30%, thị trường EU giảm 30% so với cùng kỳ. Nhiều doanh nghiệp dệt may đang phải đối mặt với việc các đơn hàng giảm mạnh, thiếu hụt dòng tiền, sản xuất cầm chừng. Tại dự thảo đề án tái cơ cấu ngành Công thương đang được lấy ý kiến, Bộ Công thương đặt ra mục tiêu hình thành và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp công nghiệp nội địa, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn có khả năng cạnh tranh cao, có vai trò dẫn dắt phát triển ngành. Theo các chuyên gia, cần xây dựng các doanh nghiệp tư nhân thành "Sếu đầu đàn" nhằm nắm bắt khoa học công nghệ để dẫn dắt các doanh nghiệp trong nước. Đồng thời tái cơ cấu doanh nghiệp trong nước, mang lại sự cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong giai đoạn tới. Trên đây là nội dung chương trình "Phát triển sản phẩm chủ lực", phát sóng ngày Chương trình thuộc thể loại tin tức tổng hợp về kinh tế, có lượng người xem lớn với thời lượng khoảng 10 phút, phát sóng với tần suất 2 số/tuần Số phát sóng lần 1 sẽ phát chính vào lúc 11 giờ thứ 2 và thứ 4 hàng tuần; số phát sóng lần 2 phát chính vào 13 giờ 50 thứ 6 và Chủ nhật hàng tuần trên Kênh 1 Truyền hình Hà Nội.
phát triển chương trình